Thông tin chuyên đề Quý II/2017: Quan hệ hợp tác pháp luật Việt Nam - Nhật Bản: 20 năm hình thành và phát triển
Sign In

Thông tin chuyên đề Quý II/2017: Quan hệ hợp tác pháp luật Việt Nam - Nhật Bản: 20 năm hình thành và phát triển

Quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản đang phát triển toàn diện, thực chất trên nhiều lĩnh vực với sự tin cậy chính trị không ngừng được nâng cao. Về kinh tế, Nhật Bản tiếp tục là đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam khi là nước cung cấp viện trợ phát triển ODA lớn nhất, đối tác thức hai về đầu tư trực tiếp nước ngoài, thứ 3 về du lịch, thứ 4 về thương mại. Hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực nông nghiệp, lao động, ứng phó biến đổi khí hậu, giao lưu địa phương có nhiều tiến triển mới. Sự phối hợp giữa hai nước trong các vấn đề cùng quan tâm tại các diễn đàn quốc tế và khu vực ngày càng chặt chẽ. Hiện có khoảng 200.000 người Việt Nam đang sinh sống, làm việc, học tập tại Nhật Bản. Trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp, Nhật Bản cũng là một trong số ít các đối tác nước ngoài hỗ trợ Việt Nam xây dựng những đạo luật cụ thể và rất kiên trì trong việc song hành cùng Việt Nam cho tới khi các văn bản pháp luật được ban hành và sau đó hỗ trợ tổ chức thực hiện, đánh giá để tiếp tục hoàn thiện hơn cho phù hợp với sự phát triển của kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn cụ thể.

1. Khái quát lịch sử phát triển của quan hệ hợp tác pháp luật Việt Nam - Nhật Bản
Trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp, hợp tác pháp luật Việt Nam - Nhật Bản được khởi động từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX với một số hoạt động tìm hiểu khả năng và lĩnh vực hợp tác phù hợp. Trong thời gian này Việt Nam đang xây dựng Bộ luật Dân sự đầu tiên của mình (1995). Để đáp ứng yêu cầu đó, các chuyên gia Nhật Bản đã sang Việt Nam giới thiệu về kinh nghiệm xây dựng Bộ luật Dân sự Nhật Bản, về hệ thống cơ quan tư pháp Nhật Bản. Chính từ các hoạt động hiệu quả làm nền móng này,hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp được chính thức bắt đầu từ cuối năm 1996 bằng việc ký kết và thực hiện Dự án ODA của Chính phủ Nhật Bản dành cho Việt Nam với tên gọi “Hợp tác về pháp luật và tư pháp” với ba giai đoạn (1996-1999, 1999-2003 và 2003-2007). Tới giai đoạn thứ tư (2007-2010), Dự án được đổi tên thành “Hỗ trợ kỹ thuật về cải cách hệ thống pháp luật và tư pháp”. Trên cơ sở những thành công của 4 giai đoạn trên, hiện nay, Dự án hợp tác giai đoạn 05 năm(2015-2020) được Chính phủ hai nước chính thức đưa vào thực hiện từ tháng 04/2015 với tên gọi là “Hài hòa hóa pháp luật hiện hành và Thống nhất áp dụng pháp luật hướng tới năm 2020” nhằm “Tăng cường năng lực các cơ quan pháp luật và tư pháp ở Trung ương và địa phương trong công tác thẩm định, thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh, nghị định và công tác thi hành pháp luật” với sự tham gia của rất nhiều Bộ, ngành quan trọng của Việt Nam, bao gồm: Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Văn phòng Chính phủ. Kết quả nổi bật trong năm đầu tiên triển khai Dự án là trên cơ sở những ý kiến đóng góp hoàn thiện dự thảo từ các chuyên gia pháp luật Nhật Bản, 03/04 bộ luật quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam - Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 và Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 đã được Quốc hội ban hành, cùng với nhiều văn bản pháp luật khác.
Có thể khẳng định rằng, Nhật Bản là một trong rất ít các đối tác nước ngoài hợp tác trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp với Việt Nam hỗ trợ Việt Nam xây dựng những đạo luật cụ thể và rất kiên trì trong việc song hành cùng Việt Nam cho tới khi các văn bản pháp luật được ban hành và sau đó hỗ trợ tổ chức thực hiện, đánh giá để tiếp tục hoàn thiện hơn cho phù hợp với sự phát triển của kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Cụ thể, các hoạt động hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp thông qua các hoạt động của Dự án do JICA thực hiện đã mang lại những hiệu quả tích cực trên 3 mặt sau:
Thứ nhất, về hoàn thiện thể chế, pháp luật của Việt Nam, Chính phủ và nhân dân Nhật Bản đã tập trung hỗ trợ Việt Nam xây dựng, sửa đổi, bổ sung rất nhiều văn bản pháp luật, bao gồm sửa đổi Hiến pháp và các đạo luật “rường cột”, cần thiết cho việc phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế của Việt Nam như: Bộ luật Dân sự 1995, năm 2005 và Bộ luật Dân sự 2015; Bộ luật Tố tụng dân sự; Bộ luật Hình sự (sửa đổi); Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi); Bộ luật Thi hành án (phần dân sự), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) Luật Thi hành án dân sự, Luật Bồi thường nhà nước, Luật Phá sản doanh nghiệp, Luật Tố tụng hành chính, Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm v.v…
Thứ hai, để tăng cường tiếp cận pháp luật đến người dân, hiện đại hóa hoạt động của các cơ quan tư pháp và pháp luật, thông qua các Dự án, JICA đã cung cấp trang thiết bị hoạt động cho các Cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia của nhiều cơ quan đặt tại 43 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cho Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm Bộ Tư pháp, hỗ trợ Toà án nhân dân tối cao xây dựng bản án mẫu và xuất bản tập án lệ... Trong điều kiện khó khăn của Việt Nam tại thời kỳ đầu đổi mới kinh tế, những hỗ trợ này vô cùng thiết thực, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật của người dân, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan nhà nước hướng về cơ sở và đáp ứng tốt yêu cầu của người dân.
Thứ ba, Dự án đã hỗ trợ nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ tư pháp và pháp luật của Việt Nam thông qua các khóa đào tạo ngắn hạn và dài hạn thông qua các chuyến khảo sát, các khoá đào tạo ngắn hạn tại Nhật Bản về các lĩnh vực pháp luật cụ thể  . Trong gần 20 năm qua, Nhật Bản đã tiếp nhận gần 60 cán bộ, công chức Bộ Tư pháp Việt Nam sang học tập, đào tạo, nâng cao trình độ (bao gồm cả đào tạo đại học và sau đại học) tại các Trường Đại học lớn của Nhật Bản như Trường Đại học Tổng hợp Nagoya, Trường Đại học Tổng hợp Kyushu. Rất vinh dự là nhiều người trong số họ sau khi trở về nước đã và đang giữ những vị trí trọng trách, chủ chốt của Bộ Tư pháp. Những kiến thức và kinh nghiệm quý báu mà các cán bộ, công chức ngành Tư pháp tích lũy được trong thời gian học tại các trường đại học của Nhật Bản góp phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn.
 Hoạt động hợp tác giữa các cơ sở đào tạo luật của hai nước đã được tăng cường một bước kể từ chuyến thăm Nhật Bản của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khi đó là Phó Thủ tướng thăm Nhật Bản vào đầu tháng 7/2012 và tháng 3/2013 Bộ Tư pháp đã ký thỏa thuận hợp tác với Trường Đại học Tổng hợp Nagoya và tháng 9/2014, Trường Đại học Luật Hà Nội và Khoa luật Trường Đại học Tổng hợp Nagoya đã hợp tác thành lập Trung tâm đào tạo và nghiên cứu luật Nhật Bản đặt tại Trường Đại học Luật Hà Nội. Hiện nay, Trường Đại học Luật Hà Nội làm đầu mối Chương trình Đào tạo tiến sỹ luật tại chỗ và cử giảng viên sang Trường Đại học Tổng hợp Nagoya theo học chương trình thạc sỹ và tiến sỹ luật, các đoàn giảng viên sang học tập trao đổi kinh nghiệm giảng dạy với các giảng viên Khoa Luật của Trường Đại học Tổng hợp Nagoya. Hai Bên cũng phối hợp tổ chức các hội thảo khoa học phục vụ cho nhiệm vụ chuyên môn của mình. Quan hệ hợp tác về pháp luật và tư pháp thông qua hình thức triển khai các hoạt động trong khuôn khổ dự án hỗ trợ kỹ thuật cụ thể cũng như thông qua các hoạt động hợp tác song phương với các cơ sở đào tạo luật của hai nước đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trên cơ sở mối quan hệ bình đẳng, thân thiện, không kèm theo các điều kiện ràng buộc giữa các bên đối tác.
Có được những kết quả ấy, cùng với những cố gắng phát huy nội lực của mình, các cơ quan, tổ chức pháp luật, tư pháp Việt Nam đã nhận được sự hợp tác, hỗ trợ tích cực từ Chính phủ Nhật Bản, Bộ Tư pháp Nhật Bản, Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) cùng các cơ quan, ban, ngành có liên quan của Nhật Bản và đặc biệt là các chuyên gia Nhật Bản.
 Ở cấp cao, hai Bên đã thường xuyên trao đổi các đoàn cấp cao để tăng cường quan hệ hợp tác, thống nhất đề ra các chính sách và mở rộng nội dung hợp tác trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp Việt Nam - Nhật Bản. Ở cấp làm việc, hai Bên đã cử và tiếp nhận các đoàn chuyên gia đi nghiên cứu pháp luật theo chuyên đề. Đặc biệt, tôi xin nhấn mạnh những đóng góp trực tiếp, hiệu quả của các chuyên gia Nhật Bản bao gồm: “chuyên gia dài hạn” làm việc thường xuyên tại văn phòng của Dự án ở Việt Nam theo nhiệm kỳ (gồm các công tố viên, thẩm phán, luật sư của Bộ Tư pháp, Toà án Tối cao và Hiệp hội Luật sư Nhật Bản) và “chuyên gia ngắn hạn” trong các trường hợp cần thiết (gồm những giáo sư đầu ngành trong lĩnh vực pháp luật dân sự và hình sự). Do gần gũi về văn hoá Châu Á, các chuyên gia Nhật Bản am hiểu sâu sắc những lĩnh vực, những nhu cầu mà Việt Nam cần hỗ trợ, do đó đáp ứng kịp thời nhu cầu của Việt Nam trong việc xây dựng, hoàn thiện và triển khai thi hành pháp luật. Các chuyên gia đã cung cấp ý kiến tư vấn chuyên môn, bình luận cho từng quy định cụ thể trong các dự án luật, pháp lệnh do các cơ quan của Việt Nam chủ trì soạn thảo; hỗ trợ tích cực cho các đối tác Việt Nam triển khai hiệu quả nhiệm vụ được giao. Các chuyên gia dài hạn, đặc biệt là các vị Cố vấn trưởng đã làm cầu nối hiệu quả, bảo đảm gắn kết nhu cầu hỗ trợ của Việt Nam và khả năng đáp ứng của Nhật Bản, làm việc với tinh thần nghiêm túc, nhiệt tình và thiện trí trong các cuộc thảo luận với đối tác Việt Nam, cùng với Việt Nam xây dựng và thực hiện các chương trình hợp tác hàng năm rất hiệu quả và thiết thực.
 Những kết quả trên đây đã được hai Bên đánh giá, thảo luận nghiêm túc trong các cuộc đánh giá cuối kỳ. Nhờ có những kết quả của quá trình hợp tác về pháp luật và tư pháp giữa Việt Nam và Nhật Bản trong gần hai thập niên qua, các cơ quan hữu quan của hai bên đã đề nghị và được các cơ quan có thẩm quyền của hai Chính phủ Việt Nam - Nhật Bản cho phép Dự án được kéo dài sang giai đoạn III, 2015 – 2020.  Dự án giai đoạn hiện nay thực hiện nguyên tắc hợp tác kế thừa kết quả của các giai đoạn trước và làm sâu sắc thêm những thành tựu này thông qua mở rộng phạm vi hợp tác, thành phần đối tác cũng được mở rộng hơn như: Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Liên Đoàn Luật sư Việt Nam và Văn phòng Chính phủ.

2. Những kết quả đạt được
Các hoạt động hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp được cụ thể như sau:
1. Hợp tác thông qua Chương trình, dự án ODA được ký kết giữa các cơ quan pháp luật và tư pháp hai nước.
Nhật Bản là nước Châu Á đầu tiên không thuộc các nước xã hội chủ nghĩa thiết lập quan hệ hợp tác hỗ trợ cho lĩnh vực pháp luật và tư pháp với Việt Nam. Mối quan hệ này được bắt đầu bằng những hoạt động thử nghiệm từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước và đến 1996, quan hệ hợp tác này được chính thức hoá bằng việc triển khai Biên bản hợp tác trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp giữa JICA và Bộ Tư pháp Việt Nam cho Giai đoạn I. Dự án đã trải qua 02 giai đoạn, đến năm 2015 (Giai đoạn 3), dự án có tên mới ”Hài hòa hóa hệ thống pháp luật hiện hành và Thống nhất áp dụng pháp luật hướng tới năm 2020”, với sự mở rộng cả về phạm vi các nội dung hợp tác cũng như số lượng đối tác Việt Nam tham gia dự án: Bên cạnh nội dung hỗ trợ soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường năng lực đội nhũ tư pháp địa phương, Dự án có thêm nội dung mới: nâng cao năng lực thẩm tra, kiểm tra VBQPPL và giám sát thi hành pháp luật với sự tham gia của Văn phòng Chính phủ nâng tổng số các cơ quan thực hiện dự án lên thành 05 cơ quan, bao gồm: Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Liên đoàn luật sư Việt Nam.
Mục tiêu tổng thể của Dự án là thiết lập một nền tảng xã hội Việt Nam phát triển được thúc đẩy thông qua việc xây dựng hệ thống pháp luật và tư pháp đáng tin cậy và có khả năng dự đoán dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính nhất quán.
Mục tiêu cụ thể của Dự án là Phát triển năng lực thể chế cho các tổ chức về pháp luật và tư pháp để hạn chế tối đa và chỉnh sửa những sự không thống nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng như để thúc đẩy sự hiểu biết đúng đắn, thực hiện và áp dụng một cách thống nhất những văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với Hiến pháp 2013  và Nghị quyết 48 -NQ/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW2005 của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam; qua đó, thực hiện quy trình hiệu quả và phù hợp, và áp dụng văn bản quy phạm pháp luật.
Các kết quả đầu ra của Dự án:
1. 
Tăng cường năng lực của các cán bộ, chuyên viên Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ nhằm thực hiện tốt hơn công tác (1) đánh giá, (2) giám sát và kiểm tra lại, và (3) giám sát việc tổng hợp và thực thi các văn bản quy phạm pháp luật để hạn chế tối đa và chỉnh sửa các điều, khoản và/ hoặc điểm không thống nhất, mập mờ hoặc khó hiểu cũng như thúc đẩy sự hiểu biết đúng đắn và thực hiện thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật.
2. Căn cứ vào kế hoạch công tác của từng tổ chức để thực hiện cải cách tư pháp và pháp luật đến năm 2020, phù hợp với Hiến pháp 2013,  Nghị quyết 48-NQ/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW2005 của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, soạn thảo các luật nội dung, luật thủ tục góp phần giải quyết các vụ án dân sự, soạn thảo Luật tố tụng hình sự. Thêm vào đó, thúc đẩy sự hiểu biết đúng đắn  các văn bản quy phạm pháp luật về các vụ án dân sự và tố tụng hình sự, tăng cường năng lực tư vấn, hướng dẫn thực hiện thống nhất và năng lực tiến hành các thủ tục xét xử.
3. Mỗi tổ chức tiến hành phân tích và kiểm tra các hoạt động được tiến hành sau năm 2021, cần tính đến đầu ra của Dự án để cải thiện các hoạt động (1) soạn thảo, đánh giá, kiểm tra lại và giám sát các văn bản quy phạm pháp luật, (2) tư vấn và hướng dẫn việc thúc đẩy sự hiểu biết đúng đắn và thực hiện thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật, và (3) tư vấn và hướng dẫn việc thực hiện xét xử và các thủ tục pháp lý dựa trên sự hiểu biết đúng đắn về các văn bản quy phạm pháp luật.
Trên cơ sở những thành công của các Dự án hợp tác với Nhật Bản từ 1996 – 2015, Dự án hợp tác giai đoạn 05 năm, 2015-2020 đã được Chính phủ hai nước tiếp tục xây dựng và chính thức đưa vào thực hiện từ tháng 04/2015 với tên gọi là “Hài hòa hóa pháp luật hiện hành và Thống nhất áp dụng pháp luật hướng tới năm 2020”. Mục tiêu tổng thể của Dự án là “Tăng cường năng lực các cơ quan pháp luật và tư pháp ở Trung ương và địa phương trong công tác thẩm định, thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh, nghị định và công tác thi hành pháp luật”. Cơ quan điều phối thực hiện Dự án là Bộ Tư pháp. Các cơ quan tham gia thực hiện Dự án gồm có Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Văn phòng Chính phủ. Trong thời gian qua, Dự án đã tích cực hỗ trợ quá trình xây dựng Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 và Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 đã được Quốc hội thông qua việc chia sẻ kinh nghiệm, ý kiến đóng góp của các chuyên gia pháp luật của Nhật Bản.
Bên cạnh nội dung hỗ trợ xây dựng pháp luật, Dự án cũng đã hỗ trợ Bộ Tư pháp thực hiện nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới là chuyển hướng chiến lược từ xây dựng sang hoàn thiện pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật thông qua hoạt động xây dựng, triển khai, sửa đổi một số luật như dự án Luật Tư pháp quốc tế, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, các văn hướng dẫn thi hành Luật THADS và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật THADS cũng như hoàn hoàn thiện pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm thông qua việc xây dựng Luật Đăng ký tài sản.
2. Hợp tác trong lĩnh vực đào tạo pháp luật giữa Việt Nam và Nhật Bản
Hoạt động hợp tác giữa các cơ sở đào tạo luật của hai nước đã được tăng cường một bước kể từ chuyến thăm Nhật Bản của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khi đó là Phó Thủ tướng thăm Nhật Bản vào đầu tháng 7/2012 và tháng 3/2013 Bộ Tư pháp đã ký thỏa thuận hợp tác với Trường Đại học Tổng hợp Nagoya và tháng 9/2014, Trường Đại học Luật Hà Nội và Khoa luật Trường Đại học Tổng hợp Nagoya đã hợp tác thành lập Trung tâm đào tạo và nghiên cứu luật Nhật Bản đặt tại Trường Đại học Luật Hà Nội. Hiện nay, Trường Đại học Luật Hà Nội làm đầu mối Chương trình Đào tạo tiến sỹ luật tại chỗ và cử giảng viên sang Trường Đại học Tổng hợp Nagoya theo học chương trình thạc sỹ và tiến sỹ luật, các đoàn giảng viên sang học tập trao đổi kinh nghiệm giảng dạy với các giảng viên Khoa Luật của Trường Đại học Tổng hợp Nagoya. Hai Bên cũng phối hợp tổ chức các hội thảo khoa học phục vụ cho nhiệm vụ chuyên môn của mình. Quan hệ hợp tác về pháp luật và tư pháp thông qua hình thức triển khai các hoạt động trong khuôn khổ dự án hỗ trợ kỹ thuật cụ thể cũng như thông qua các hoạt động hợp tác song phương với các cơ sở đào tạo luật của hai nước đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trên cơ sở mối quan hệ bình đẳng, thân thiện, không kèm theo các điều kiện ràng buộc giữa các bên đối tác.
Trong khuôn khổ Dự án Đào tạo và Nghiên cứu Luật Nhật Bản được ký giữa Đại học Luật Hà Nội và Khoa luật Trường Đại học Tổng hợp Nagoya, kể từ khi được thành lập vào tháng 9/2007 đến nay, Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu Luật Nhật Bản tại Trường Đại học Luật Hà Nội đã hoạt động hiệu quả, tạo nhiều cơ hội cho sinh viên đang theo học chương trình cử nhân của Trường Đại học Luật Hà Nội được học tiếng Nhật và pháp luật Nhật Bản, tham gia các chương trình trao đổi sinh viên, các hoạt động thực tập ngắn hạn cũng như các học bổng dài hạn tại Nhật Bản. Hai Bên cũng đã thực hiện nhiều nghiên cứu khoa học chung, phối hợp tổ chức các hội thảo khoa học phục vụ cho nhiệm vụ chuyên môn của mình. Hiện nay, Bộ Tư pháp và Trường Đại học Luật Hà Nội đang xúc tiến việc đàm phán, ký kết Bản ghi nhớ hợp tác với các cơ sở đào tạo luật của Nhật Bản (ví dụ như Khoa Luật Đại học Keio) nhằm tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy hoạt động hợp tác đào tạo sinh viên, cán bộ pháp luật giữa hai Bên.
Trong khuôn khổ Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Tư pháp và Trường Đại học tổng hợp Nagoya ký năm 2013, hai Bên đang tích cực triển khai thực hiện Chương trình đào tạo tiến sỹ từ xa thông qua Văn phòng đại diện Trường Đại học Tổng hợp Nagoya đặt tại Trường Đại học Luật Hà Nội (được thành lập 9/2014). Kể từ năm 2014 đến nay, Văn phòng đã tiếp nhận hai nghiên cứu sinh theo học Chương trình này.
Thống kê từ năm 1995 trở lại đây, trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực pháp luật, Nhật Bản đã tiếp nhận gần 70 cán bộ, công chức Bộ Tư pháp Việt Nam sang học tập, đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ. Các chương trình học bổng mà Nhật Bản dành cho Bộ Tư pháp Việt Nam chủ yếu bao gồm: Chương trình Học bổng phát triển nguồn nhân lực (JDS), Chương trình Học bổng nhà lãnh đạo trẻ (YLP), Chương trình học bổng của Bộ Giáo dục và Khoa học Nhật Bản (MEXT) tại các trường Đại học danh tiếng của Nhật Bản như: Nagoya, Đại học Kyushu, Đại học Kobe. Nhiều người trong số họ sau khi trở về nước đã và đang giữ những vị trí trọng trách, chủ chốt của Bộ Tư pháp. Những kiến thức và kinh nghiệm quý báu mà các cán bộ, công chức ngành Tư pháp tích lũy được trong thời gian học tại các trường đại học của Nhật Bản góp phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn.
3. Tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại với Nhật Bản
Trong thời gian từ 01/10/2013 đến 24/02/2017, yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự từ Việt Nam đến Nhật Bản khá nhiều, trong đó hơn một nửa là đối với công dân quốc tịch Nhật Bản. Tuy nhiên, các yêu cầu tương trợ tư pháp này cho đến nay đều không có kết quả. Bộ Tư pháp không nhận được trả lời từ cơ quan có thẩm quyền của Nhật Bản và cơ quan đại diện Việt Nam ở Nhật Bản nên chưa rõ lý do của việc chậm thực hiện các ủy thác tư pháp của Việt Nam. Đề nghị phía Nhật Bản sớm thông tin cho Bộ Tư pháp Việt Nam để tìm hướng khắc phục.
 Trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự, Việt Nam đã nhiều lần đề xuất với Nhật Bản về việc ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự hoặc ít nhất là Hiệp định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án song song với việc Việt Nam gia nhập Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại. Tuy nhiên, trước mắt phía Nhật Bản mong muốn Việt Nam tham gia các cơ chế đa phương mà Nhật Bản đã tham gia như Công ước tống đạt giấy tờ để tiết kiệm thời gian cho hai bên.
3. Phương hướng đẩy mạnh quan hệ hợp tác giữa hai Bộ Tư pháp Việt Nam – Nhật Bản
Việt Nam đang bước sang giai đoạn phát triển mới hướng tới sự ổn định vững chắc hơn, tăng trưởng cao hơn và tự tin, chủ động hội nhập vào một thế giới mà quá trình toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng; khoa học, công nghệ phát triển nhanh chóng, kinh tế thị trường và tiến bộ công bằng xã hội, dân chủ và pháp quyền, hợp tác và đấu tranh vì lợi ích quốc gia, vì hoà bình và phát triển, đồng thời cùng chung tay giải quyết những vấn đề toàn cầu là xu hướng chung của nhân loại đã và đang đặt ra những yêu cầu mới đầy thách thức đối với công tác pháp luật, tư pháp ở Việt Nam. Trong bối cảnh đó, quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Nhật Bản tiếp tục phát triển đi vào chiều sâu. Tiềm năng hợp tác giữa hai Bên trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp là rất lớn trong bối cảnh hai nước đã ký “Tuyên bố chung Việt Nam - Nhật Bản về phát triển toàn diện quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á” ngày 18/3/2014, theo đó, quan hệ hợp tác pháp luật và tư pháp sẽ là cơ sở quan trọng cho sự phát triển bền vững quan hệ hợp tác chung giữa hai nước trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Trong thời gian tới, bằng việc triển khai các văn bản hợp tác mới ký kết, quan hệ hợp tác với Nhật Bản trong các lĩnh vực pháp luật trong đó có đào tạo nguồn nhân lực pháp luật sẽ đem lại những kết quả cụ thể, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành tư pháp Việt Nam. Trong những năm tiếp theo, bên cạnh hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự và kinh tế, Nhật Bản sẽ mở rộng phạm vi hỗ trợ kỹ thuật Việt Nam trong cả xây dựng và thực thi pháp luật hình sự và hành chính vốn là một trong hai thế mạnh của Nhật Bản trong hợp tác pháp luật và hỗ trợ các nước phát triển ở khu vực châu Á, trong đó có Việt Nam; đồng thời tiếp tục hỗ trợ Việt Nam triển khai thi hành các đạo luật, các luật và nghị định đã được thông qua. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang tăng cường hợp tác đa phương trong lĩnh vực pháp luật, hy vọng rằng, Việt Nam sẽ nhận được những hỗ trợ kỹ thuật của Nhật Bản trong hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm cũng như các hoạt động hợp tác đa phương về pháp luật.
Đồng thời, hai Bên cần tiếp tục duy trì ở mức độ mở rộng phạm vi về đào tạo nguồn nhân lực pháp luật cho Việt Nam. Song song với việc hỗ trợ Việt Nam đào tạo các chức danh tư pháp bằng các hoạt động hỗ trợ xây dựng chương trình đào tạo, giáo trình giảng dạy. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đang tiến hành hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống kinh tế khu vực và quốc tế, đề nghị Nhật Bản giúp Việt Nam đào tạo đội ngũ luật sư phục vụ công cuộc hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam. Ngoài ra, để thực hiện Tuyên bố chung Việt Nam - Nhật Bản được ký ngày 18/3/2014, hai Bên cần thiết phải tiến hành trao đổi, thảo luận để đi đến đàm phán, ký kết Hiệp định song phương hoặc gia nhập các Công ước đa phương về tương trợ tư pháp trong các lĩnh vực dân sự, thương mại và hình sự trong bối cảnh quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển và gia tăng các giao dịch dân sự, thương mại[2].
- Trong 5 năm tới (2017-2021), một trong những nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của Bộ Tư pháp, ngành Tư pháp là chuyển hướng chiến lược từ xây dựng sang hoàn thiện pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật, nhất là trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách pháp luật và cải cách tư pháp. Vì vậy, bên cạnh việc tiếp tục thực hiện thành công tác mục tiêu đề ra trong khuôn khổ Dự án JICA hiện tại, tôi tin tưởng rằng trong thời gian tới đây, với việc triển khai thực hiện Dự án hợp tác giai đoạn mới, quan hệ hợp tác về pháp luật và tư pháp Việt Nam - Nhật Bản, đặc biệt là giữa Bộ Tư pháp hai nước, sẽ tiếp tục phát triển, góp phần tích cực cho quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền trong thời kỳ công nghiệp hóa, hội nhập quốc tế của Việt Nam.
- Về nội dung lĩnh vực hợp tác:
+ Trong những năm tiếp theo, bên cạnh việc tiếp tục thực hiện thành công các mục tiêu đề ra trong khuôn khổ Dự án hiện tại về hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp giữa Việt Nam và Nhật Bản, với xương sống là hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự và kinh tế phục vụ phát triển nền kinh tế thị trường, đề nghị phía Nhật Bản mở rộng phạm vi hỗ trợ kỹ thuật sang các lĩnh pháp luật khác như pháp luật hành chính. 
Trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng về luật, hiện nay Việt Nam đang đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực pháp luật, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao với việc Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Đề án  tổng thể “Xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật”, Đề án “Xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư pháp”, Đề án đào tạo luật sư hội nhập quốc tế. Do vậy, hy vọng rằng trong thời gian sắp tới, Nhật Bản tiếp tục duy trì ở mức độ mở rộng phạm vi hỗ trợ Việt Nam trong công tác đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành Tư pháp Việt Nam. Song song với việc hỗ trợ Việt Nam đào tạo các chức danh tư pháp (tập trung vào thẩm phán, kiểm sát viên và luật sư) bằng các hoạt động hỗ trợ xây dựng chương trình đào tạo, giáo trình giảng dạy chung cho cả ba chức danh nêu trên. Bên cạnh đó, trong bối cảnh Việt Nam đang tiến hành hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống kinh tế khu vực và quốc tế, đề nghị Nhật Bản giúp Việt Nam đào tạo đội ngũ luật sư phục vụ công cuộc hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam. Trong chuyến thăm Nhật Bản của Bộ trưởng Hà Hùng Cường nhân dịp tháp tùng Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và cuộc gặp với Bộ trưởng Tư pháp Nhật Bản Midori MATSUSHIMA vào tháng 10/2014, Bộ trưởng Tư pháp Nhật Bản hứa sẽ nghiên cứu hình thức hợp tác phù hợp để giúp Việt Nam đào tạo đội ngũ luật sư có khả năng đại diện cho Chính phủ tham gia giải quyết các tranh chấp quốc tế, trong đó có tranh chấp trên biển.
+ Trong lĩnh vực tương trợ tư pháp: để thực hiện Tuyên bố chung Việt Nam – Nhật Bản được ký ngày 18/3/2014 “Phía Việt Nam đề nghị sớm đàm phán về các hiệp định tương trợ tư pháp, dẫn độ và chuyển giao người bị kết án. Phía Nhật Bản ghi nhận đề xuất của phía Việt Nam và bày tỏ hy vọng phía Việt Nam sẽ xem xét gia nhập các hiệp ước đa phương, bao gồm Công ước La Hay về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại”, hai Bên cần thiết phải tiến hành trao đổi, thảo luận để đi đến đàm phán, ký kết Hiệp định song phương hoặc gia nhập các công ước đa phương về tương trợ tư pháp trong các lĩnh vực dân sự, thương mại và hình sự trong bối cảnh quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển và gia tăng các giao dịch dân sự, thương mại. Trong chuyến thăm Nhật Bản của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vào tháng 10/2014, Thủ tướng A-bê, Bộ trưởng Tư pháp và Ngoại trưởng Nhật Bản đã khẳng định sẽ xem xét tích cực việc đàm phán ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp.
+ Đối với các hoạt động trong khuôn khổ Hội nghị La Hay, đề nghị phía Nhật Bản chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ về kỹ thuật, nâng cao năng lực cho cán bộ phía Việt Nam trong quá trình thực thi Công ước Tống đạt, gia nhập và thực thi các Công ước khác của Hội nghị La Hay mà Nhật Bản là thành viên. Đồng thời, đề nghị phía Nhật Bản ủng hộ Việt Nam tham gia vào các Công ước của Hội nghị La Hay nói riêng, các hoạt động trong khuôn khổ Hội nghị nói chung và hỗ trợ Việt Nam kinh nghiệm tham gia các tổ chức quốc tế đa phương khác về tư pháp và pháp luật mà Nhật Bản đã là thành viên.
 

[1] Như: Khảo sát về pháp luật dân sự Nhật Bản (năm 2014); khảo sát về cải thiện chất lượng công tác thẩm định kiểm tra và theo dõi thi hành pháp luật (tháng 11/2015), khảo sát về pháp luật đăng ký tài sản tại Nhật Bản (tháng 9/2016), học tập nghiên cứu các lĩnh vực chuyên sâu về nghề tư pháp tại Nhật Bản (tháng 11/2016)...
 
[2] Theo Tuyên bố chung: “Phía Việt Nam đề nghị sớm đàm phán về các hiệp định tương trợ tư pháp, dẫn độ và chuyển giao người bị kết án. Phía Nhật Bản ghi nhận đề xuất của phía Việt Nam và bày tỏ hy vọng phía Việt Nam sẽ xem xét gia nhập các hiệp ước đa phương, bao gồm Công ước La Hay về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại